Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012

HÀNH TRÌNH CỦA CHIẾC BÁNH CHƯNG

HÀNH TRÌNH CỦA CHIẾC BÁNH CHƯNG

An Thảo

Bánh chưng là vật phẩm linh thiêng trong văn hóa ẩm thực Việt. Hình vuông và màu xanh, bánh chưng tượng trưng cho tinh hoa kết từ lòng Đất Mẹ. Truyền thuyết kể rằng từ đời Vua Hùng thứ 6, bánh chưng đã xuất hiện trong cuộc thi tài kén người kế vị ngôi vua và trở thành món con dân Việt dâng cúng tỏ lòng biết ơn sinh thành dưỡng dục của Tổ tiên, Trời Đất.

Bánh chưng không thể thiếu trong cỗ Tết Việt. Nó luôn là kết tinh thành quả lao động, sáng tạo của con người qua đủ các khâu từ trồng cấy gạo, đỗ, lá dong, nuôi lợn, chẻ lạt, gói, nấu bánh. Đời nào cũng thế, dâng cặp bánh chưng lên cúng Tổ tiên, lòng người con Việt rưng rưng muốn báo với người trên, Trời, Đất niềm vui gặt hái thành quả dẻo thơm ngọt bùi sau bao lam lũ, tảo tần. Rất mộc mạc, rất thành kính, cẩn trọng từ chuẩn bị vật liệu, gói, nấu. Quy trình ấy trong tâm thức trẻ già dân Việt hệt như một lễ hội thiêng liêng. Bánh chưng từ sâu thẳm hồn Việt là thành quả làm ra của chính bàn tay ta chứ chuyện đi mua về cúng âu cũng là vạn bất đắc dĩ trong những buổi bận rộn việc đời bối rối.

Về tâm linh thì thế, về hiệu quả bổ dưỡng thì bánh chưng thực sự là vật phẩm đặc trưng cho gu ẩm thực Việt. Thịt lợn đủ đạm và béo, đậu xanh mát lành, gạo nếp giàu năng lượng, tất cả được gói kín trong lá dong rồi “chưng cách thủy” bằng sức nóng của nồi nước sôi hầm hơn chục giờ đồng hồ. Cách chế biến độc đáo này giữ nguyên chất lượng bổ dưỡng của các sản vật góp mặt mong tấm bánh. Hương vị của chúng hòa quyện, bổ sung cho nhau trong một thể chắc rền. Bánh chưng Việt mùa nào cũng có nhưng để cảm nhận trọn vẹn miếng ngon ấy thì phải ăn vào dịp Tết Nguyên Đán, cùng củ hành muối chua giòn, khẩu giò lụa, chút nước mắm nguyên chất.

Mỗi độ mưa bay nhoi nhói lạnh báo Tết sắp tới, Xuân sắp về lòng ta lại nao nao nhớ hơi ấm lửa nồi bánh chưng, nhớ bàn tay người đãi gạo, đỗ, rửa lá dong dầm trong nước buốt ngày Đông giá. Lạnh tê đấy mà háo hức rạo rực đấy trong lòng. Ta nhớ đến bần thần cái Tết thời bao cấp, mẹ đã đảm đang tích dần gạo, đỗ, phiếu thịt từ cả mấy tháng để lo cho con cái Tết có hơi ấm bánh chưng. Ta ngày ấy là thiếu nữ tròn trăng, chị cả của hai đứa em líu ríu, nên thành cánh tay phải của mẹ đảm đương việc bếp núc, bánh trái ngày Tết.

Cuối cùng thì vật liệu bánh chưng cũng đã đủ. Đỗ xanh đã xát vỡ, đã ngâm, đãi tinh tươm, đồ chín, chia nắm đều cho vừa số bánh dự trù. Lá dong bánh tẻ đã rửa sạch, rọc bỏ sống cứng, đủ cho mỗi bánh hai lá lót xanh mướt và hai lá bọc to bản. Thịt ba rọi đã cắt miếng bằng bàn tay, ướp đủ gia vị. Đặc biệt, gạo nếp mẹ bày bí quyết chỉ ngâm sơ chục phút rồi vo, chờ ráo là xóc muối vừa đậm chứ không ngâm cả đêm để bánh nấu xong gạo nở vừa rền bánh. Bố đã xin vườn hàng xóm ít lá riềng giã nát, lọc lấy nước thơm ấm để nhuộm gạo phớt xanh. Lạt bố chẻ từ khúc giang gần mét vừa dẻo vừa thoải mái dài cho tay néo bánh chắc vừa độ.

Bố vừa gói vừa bày cho con gái tập tành kẻo mai này về nhà chồng vụng về thì khổ. Này là cắt khuôn lá xếp cho vuông thành, lót góc cho chắc kín, đo cữ để mười bánh cao thành, cạnh rộng bằng nhau chằn chặn cả mười. Này là lần lượt đổ gạo, xếp đỗ, thịt sao cho thịt lọt trong đỗ, đỗ lọt trong gạo, xếp thật đều nhân để mai cắt bánh thì cả tám miếng đều đủ vị. Bố nhắc con gái xoay mặt lá trong vào gạo để màu xanh lá in lên nếp vỏ bánh mới thật là sắc chuẩn bánh chưng. Ta luyện mãi đến cái thứ ba thì biết lựa tay néo lạt vừa tầm. Không chặt quá kẻo gạo nở vỡ bánh, không lỏng quá kẻo bánh bung, bánh méo lúc luộc, ép hoặc nước lọt vào ruột thì hỏng hết cả hương vị, chẳng để được lâu.

Suốt từ trưa tới chạng vạng chiều thì gói xong. Những mẩu lá dong thừa, lá riềng còn lại được rải kín đáy nồi để vừa thơm nước luộc, vừa phòng cạn nước sém bánh. Mẹ thả tẹo muối vào nước luộc, bí quyết riêng để giữ vỏ bánh xanh mướt màu lá tươi. Sau này nghe người ta nói nếu luộc bằng nồi tôn thì không cần muối vẫn có vỏ bánh xanh ngắt. Ta thích bí quyết của mẹ hơn. Bằng cách ấy, có lần ta tiết kiệm thời gian, luộc bằng nồi áp suất lá không bị vàng xỉn như nhà khác mà vẫn cứ xanh óng. Củi gộc bố tích cả năm giờ thừa đủ để nồi bánh chưng reo réo sôi suốt từ sẩm tối đến gần trưa hôm sau, đúng chuẩn 14 tiếng cho bánh chín rền.

Đêm luộc bánh là đêm cổ tích lung linh. Lũ em ta hau háu nửa tỉnh, nửa mơ dở giấc trong lòng bố, lòng mẹ nghe chuyện đời xưa cố tích Lang Liêu gói bánh chưng. Bố rủ chúng ồn ào bày đám chơi tam cúc. Mẹ lúi húi đặt chêm ấm nước ké bên lửa nồi để thêm khi cạn, đảm bảo bánh lúc nào cũng sôi ngập. Ta loay hoay nướng khoai dử lũ nhóc nhường chân tam cúc mà chúng chả nhường dẫu cứ lẻm hết mớ khoai. Em ta háo hức chống mí mắt chực sập vì buồn ngủ, chờ bố vớt cho cái bánh chưng con để thử. Thơm lừng và tuyệt ngon. Ta bắt đầu biết lặng thầm thưởng thức không gian yêu thương ấy, no ấm ấy của Tết nhà. Cái bánh chưng con là tình yêu tinh tế vô bờ của bố mẹ dành cho lũ nhóc. Ba cái bánh, cả ta vẫn có phần, là tay mẹ xúc dư nếp, đậu, bố xắt dư thịt, bớt nguyên vật liệu của đủ một bánh to để dành cho con trọn hương vị xuân lung linh.

Trưa hôm sau bánh chín, bố vớt. Chờ đủ nguội, mẹ nắn cho bánh vuông cạnh cao thành rồi xếp hết xuống dưới tấm ván, đặt lên chậu nước to. Bánh nén như thế đủ một ngày là đủ tiêu chuẩn rền, chắc. Bố thả ba đôi bánh xuống giếng thơi để dành. Bánh gói kín, chả lo nước giếng ngấm vào, hơi lạnh của nước giữ cho bánh ngon bền chả kém bỏ tủ lạnh bây giờ. Ăn dè, gần rằm mới vớt đến đôi cuối cùng. Nhớ mãi bánh chưng mùa Tết ấy.

Sáng 30 Tết, mẹ bày cho ta chọn hai cặp bánh đẹp nhất để “gói lại” làm đồ cúng giao thừa, cúng bàn thờ gia tiên. Gói lại là bao thêm lớp lá dong xanh vừa độ nhất đã chọn cất riêng, buộc bằng lạt giang to bản đã nhuộm đỏ. Những cặp bánh chưng cúng đẹp ảo diệu, rực rỡ sắc màu no ấm. Nét duyên gia chánh riêng nếp nhà ấy đến tận giờ vẫn theo ta, vẫn khiến ta trầm lòng vào cõi dịu dàng mỗi khi gói lại bánh.

Phải nói thêm, cắt bánh bằng lạt cũng là nghệ thuật khéo tay phải luyện mới nên. Xếp bốn lạt chéo lên mặt bánh rồi lật úp lên đĩa, lần lượt nhấc lạt cắt bánh theo đúng trật tự đặt trước, đặt sau để lát bánh cắt được gọn , không kéo nhân bật ra khỏi bánh vì rối lạt.

Rồi qua thời bao cấp, đã tưởng kinh tế thị trường và dịch vụ chế biến đồ ăn sẵn khiến tay nghề bánh chưng của ta thành quá vãng. Túi bụi việc nhà, việc con cái, việc áo cơm, lắm phen ta chẳng còn về quê gạ bố mẹ những đêm bánh chưng thần tiên. Ta cuống cuồng ra hàng mua cặp bánh về gói lại lá vỏ rồi cúng. Chất lượng làm sao sánh được với bánh nhà gói. Chao ôi, cứ bứt rứt như có chút lỗi trong đạo làm người thiếu phần chu đáo. Không còn quá túng thiếu, bánh chưng mua cúng, ăn quanh năm. Mỗi Tết cũng chỉ sắm cùng lắm hai đôi bánh, trước cúng, sau cỗ. Lũ trẻ nhà ta chả cảm thấy chiều sâu tâm linh ảo diệu của những tấm bánh chưng nhà làm. Ta lại lỗi với tâm hồn con, với dòng chảy văn hóa Việt. Biết thế nhưng phải tới tận một ngày nghe tin thiên hạ làm gian, bỏ pin vào luộc bánh cho bớt công củi lửa thì mới thất kinh, ta lục tục quay về tìm cách gói bánh, nấu nồi áp suất cho lành. Bếp than tổ ong và 4 tiếng hầm bánh chả thể nào tạo nên không gian đêm bánh chưng huyền hoặc cho lũ trẻ. Chỉ là chuyện dịch vụ không giải phóng được bà nội trợ thì ta lại phải quay về lo toan, gánh vác. Niềm vui ấm áp đêm bánh chưng thiêng liêng lặn sâu lắc sâu lơ trong hồn ta không nguôi nhung nhớ ngày xưa.

Đám bạn học hóa ra cũng chịu hết nổi nỗi thiếu thốn đêm cổ tích ấy. Cả lũ chúng ta quyết quây quần nấu chung bánh đúng kiểu cổ truyền cho đám hậu duệ lít nhít của bốn năm nhà được hưởng không gian hồn Việt. Khỏi phải nói các ông chồng loay hoay xoay sở cỡ nào để hoàn thành trách nhiệm sắm nồi đại, củi gộc và dọn góc sân cây cảnh thành bãi chiến trường cho trận gói, nấu bánh chưng. Đám các bà vợ, đàn đúm tính toán nếp, đậu, thịt, lá, lạt cho đủ từ gói đi tới gói lại. Suốt hai ngày nghỉ cuối tuần giáp Tết lễ hội bánh chưng rộn rã. Lũ trẻ mê mải khám phá thế giới kỳ diệu của hành trình bánh chưng. Ánh mắt trẻ thơ háo hức như em ta xưa chờ bánh, kéo ta về với tháng ngày năm nảo năm nao ấm áp. Các ông chồng tranh thủ nhậu hợp pháp chưa từng có trong khi cả lũ đàn bà ngẩn ngơ thầm nhớ những tháng ngày thiếu nữ Tết xưa học gói, rồi thành chủ lực gói bánh của các nhà. Nhân thể thế giới vợ rủ nhau khôi phục kỹ năng gia chánh làm mứt, kho cá, nấu chè kho. Dịu dàng quá đỗi niềm vui nội trợ. Chồng con cứ là hớn hở thực sự đúng câu “vui như Tết”.

Từ đó hẹn nhau không bỏ lỡ không gian bánh chưng mỗi Tết. Hội bánh chưng mỗi năm một mở rộng. Năm nay bạn cơ quan nghe tin cũng gạ ta thêm ngoại lệ cho tham gia cùng. Thế là chủ tịch công đoàn gợi ý tổ chức đêm bánh chưng cho hết thảy đám trẻ cơ quan, cả thanh niên trẻ lẫn trẻ con các nhà. Ta xao xuyến vui trước viễn cảnh hành trình của chiếc bánh chưng đã vượt qua bước trầm, quay về với không gian linh thiêng vốn có. Tục gói bánh chưng cúng Tổ tiên, Trời Đất lại được tiếp nối dòng chảy văn hóa muôn đời đúng nghĩa. Dù không trực tiếp trồng trọt, chăn nuôi ra nguyên liệu bánh, lũ trẻ cũng sẽ biết nâng niu báu vật từ Đất, từ Trời ấy để tôn vinh sức lao động, sáng tạo của dân tộc Việt. Chúng và lớp lớp thế hệ mai sau sẽ kế thừa những tinh hoa kỹ năng gói bánh, làm bánh, cắt bánh, sẽ duy trì trọn vẹn ý nghĩa tâm linh kỳ diệu của hồn bánh chưng xanh mỗi độ Tết về./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét