Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

KHÍA CẠNH VĂN HÓA, XÃ HỘI KHI THÊM NHÓM KÝ TỰ F,J,W,Z VÀO BẢNG CHỮ CÁI TIẾNG VIỆT


Đề xuất thêm nhóm ký tự F, J,W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt trên môi trường sách giáo khoa và máy tính trong dự thảo thông tư của Bộ Giáo dục – Đào tạo đang được dư luận đặc biệt quan tâm bởi tầm ảnh hưởng sâu rộng của nó tới đời sống xã hội.

 

Là một sinh ngữ, tiếng Việt luôn vận động đồng hành với quá trình phát triển của cộng đồng sử dụng nó cả về ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa… và chữ viết. Việc thay đổi bảng chữ cái của một sinh ngữ cho phù hợp với thực tiễn phát triển đời sống cũng là điều tất yếu tại thời điểm nào đó. 

 

Tuy vậy, xác định đúng thời điểm mà nhu cầu xã hội về thay đổi bảng chữ cái chín muồi cũng như nội dung thay đổi sao cho khả thi là điều hệ trọng. Hiệu quả và hệ lụy văn hóa, xã hội của việc thêm nhóm ký tự trên vào bảng chữ cái tiếng Việt cần được xem xét toàn diện.

 

Nhu cầu xã hội đối với việc thêm nhóm ký tự F, J,W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt

 

Tác giả của đề xuất - ông Quách Tuấn Ngọc - cục trưởng Cục Công nghệ thông tin (Bộ GD-ĐT) lý giải về nhu cầu xã hội của việc thêm nhóm ký tự F, J, W, Z là để đáp ứng kỹ thuật công nghệ thông tin và sử dụng thuật ngữ, ký hiệu khoa học, từ nước ngoài trong sách giáo khoa, văn bản khoa học, báo chí… trong thời gian gần đây. Việc bổ sung này là thêm chứ không phải thay thế các chữ ghép tương đương đang tổn tại trong bảng chữ cái.

 

Theo ý kiến của dư luận rộng rãi, nhóm ký tự trên được sử dụng để thêm các dấu của tiếng Việt khi chế bản trong lối gõ Telex, còn lối gõ Vni thì không cần tới chúng. Như vậy thói quen dùng các phím ký tự này cho thể hiện ngôn ngữ  viết của tiếng Việt mang tính chất bổ trợ kỹ thuật chứ chúng không độc lập thể hiện là dấu hiệu ký âm trên văn bản. Trong trường hợp gõ Vni hoặc bàn phím mang các dấu hiệu ngôn ngữ tượng hình khác, các phím hỗ trợ đó không nhất thiết phải là phím chữ F, J, W, Z.

 

Hiện tượng một ngôn ngữ vay mượn từ nước ngoài, ký hiệu khoa học để diễn đạt là phổ biến. Trong trường hợp thật cần thiết, khi tiếng Việt không có từ tương đương, cách diễn đạt tương đương hoặc việc phiên âm tên riêng, thuật ngữ khoa học, ký hiệu toán học, hóa học… làm phức tạp hóa logic nhận thức, thì việc sử dụng nguyên cụm từ, cụm từ viết tắt, chữ cái ký hiệu hoặc ký hiệu đặc biệt là thực sự đáp ứng nhu cầu văn hóa, xã hội. Tuy vậy, vay mượn cả từ, cụm từ hoặc một ký hiệu khoa học với trọn vẹn ý nghĩa biểu đạt là khác với việc mượn chữ cái nước ngoài bổ sung vào bảng chữ cái mà không thay đổi về ngữ nghĩa, cách phát âm từ vựng.

 

Bảng chữ cái tiếng Việt đang có đã được hình thành và tồn tại tới ba thế kỷ. Nó được sử dụng liên tục trong dòng chảy phát triển văn hóa, giáo dục, xã hội và đáp ứng tốt các phát sinh về ký âm từ vựng mới trong mọi loại hình văn bản chữ viết của dân tộc Việt và người nước ngoài học nó, sử dụng nó. Nền giáo dục Việt Nam đã dùng nó trong tất cả các cấp học từ mầm non tới sau đại học. Như vậy, cho tới giờ phút này, nó đã khẳng định được tính hữu dụng và đầy đủ về chức năng ngôn ngữ.

 

Cộng đồng sử dụng tiếng Việt đang ngày càng quen thuộc hơn với Internet và máy tính. Trên thực tế, khó khăn khi thể hiện văn bản với bảng chữ cái tiếng Việt là không có gì. Cộng đồng ấy hiện tại không chỉ sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam mà trải rộng toàn cầu. Dù tiếng Việt chưa vào top các ngôn ngữ thông dụng nhất của thế giới song đã được khẳng định giá trị. Những khác biệt cơ bản về chữ cái như dấu râu chữ ư, ơ, dấu mũ của ô, ă, â, các chữ ghép được khắc phục tốt khi chế bản vi tính. Những ký hiệu toán học, khoa học khác cùng các từ, cụm từ nước ngoài được vay mượn cũng không cản trở tư duy của họ khi viết, đọc văn bản thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

Gợi ý rằng một số chữ cái ghép trong bảng chữ cái tiếng Việt cần được đơn giản hóa bằng cách  thêm vào nhóm ký tự trên cho phù hợp với xu thế hòa nhập cần được xem xét kỹ hơn vì những lý do nêu ban đầu để thực hiện nó chưa thực sự là nhu cầu cấp thiết trong xã hội.

 

Tầm ảnh hưởng văn hóa xã hội của việc thêm nhóm ký tự F, J,W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt

 

Trước hết, việc thêm vào sẽ gây trùng lắp trong sử dụng chữ mới và chữ có sẵn, đó là làm phức tạp hơn về mặt chính tả mà không đem lại sự dồi dào hơn về ngữ nghĩa.  Dù có ban hành kèm theo một hệ thống quy tắc sử dụng chúng thì lại kéo theo rất nhiều khó khăn trong tiếp nhận ở trẻ em, người lớn Việt Nam và nước ngoài có nhu cầu học, sử dụng tiếng Việt.

 

Sách giáo khoa chính là công cụ truyền đạt tri thức, văn hóa cho thế hệ trẻ - những nhân lực vận hành xã hội trong tương lai không xa. Dù thế hệ ấy có nỗ lực vượt qua được khó khăn về sử dụng chữ cái mới thì họ sẽ vẫn phải mang thói quen thiết lập và sử dụng văn bản ấy ra toàn xã hội tương lai.

 

Cũng như vậy, chúng ta đã chứng kiến những thay đổi công nghệ lớn lao trong xã hội cả theo hướng tốt cho sự phát triển lẫn ngược lại. Tuy nhiên, khởi đầu, công nghệ luôn được ra đời, hiệu chỉnh theo nhu cầu phát triển xã hội hơn là đòi hỏi xã hội biến đổi rắc rối thêm để đáp ứng khó khăn chưa khắc phục được của công nghệ. Mà trong trường hợp bổ sung chữ cái chúng ta đang bàn thì dường như khó khăn nêu ra về công nghệ lại chưa phải là không thể khắc phục. Ngay với các cộng đồng sử dụng các nhóm ngôn ngữ xa với chữ la–tinh hơn như Hán, Hàn, Nhật, Nga, Ả Rập… thì việc tham gia hội nhập quốc tế, phát triển xã hội cũng đâu cần sự bổ sung chữ cái liên quan tới nhu cầu công nghệ như vậy.

 

Những xáo trộn phức tạp ở mức độ chưa  lường trước sẽ diễn ra không chỉ trong phạm vi trên môi trường sách giáo khoa và máy tính mà thôi. Ngoài việc gây tốn kém sức người sức của to lớn cho việc cập nhật yếu tố mới này vào hệ thống sách giáo khoa, văn bản mọi cấp, mọi thể loại, còn kéo theo cả những thay đổi chắc chắn về mặt văn hóa xã hội khác nữa.

 

Ngôn ngữ là một trong những dấu hiệu cơ bản nhất để xác định bản sắc dân tộc bởi quá trình hình thành nó phản ánh  trọn vẹn quá trình kết tinh thành quả lao động, sáng tạo của cộng đồng dân tộc đó. Thay đổi bảng chữ cái theo cách thêm vào nhóm ký tự F, J, W, Z nếu nhìn từ khía cạnh này thì cần tính toán lợi và hại rộng hơn là phản ánh ngôn ngữ chat, nhắn tin kiểu tắt của một nhóm cư dân. Sự phát triển trình độ kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục của cộng đồng dùng tiếng Việt, như đã phân tích ở phần trên, sẽ thế nào khi sử dụng bảng chữ cái bổ sung càng cần được nhà quản lý cân nhắc và dự báo kỹ lưỡng, tránh tình trạng vô hiệu và thậm chí là bị thêm rào cản. Làm được như vậy, hiệu quả hay hệ lụy về hòa nhập quốc tế sẽ được tiên lượng rõ hơn.

 

Bất kỳ thay đổi nào về ngôn ngữ cũng vừa thể hiện, vừa kéo theo thay đổi về giao tiếp, tư duy của người sử dụng. Hệ thống chữ cái của một ngôn ngữ là công cụ thiết lập dòng âm thanh dù là vang thành tiếng hay chỉ ngầm chảy trong quá trình tư duy. Việc biểu thị nó bằng hình ảnh chữ cái nào cũng có tác động nhất định vào quá trình đó. Sự thay đổi hệ thống chữ cái theo cách thêm vào nhóm ký tự này cần phải được tính toán khoa học để không ảnh hưởng tới tư duy sáng tạo của người sử dụng.

 

Thay cho lời kết

 

Như vậy, sự thay đổi bảng chữ cái cần được cân nhắc sâu, rộng và với tầm nhìn xa về phát triển đời sống xã hội toàn diện. Chỉ khi nhu cầu xã hội về sự thay đổi đó thực sự chín muồi thì những thay đổi mới có thể được tiếp nhận trong cộng đồng sử dụng tiếng Việt.

 

Nếu nhu cầu còn chưa xác đáng hoặc dù đã thực sự cần mà tiến trình kỳ vọng quá gấp rút, thể thức pháp lý cho việc quy chuẩn không thuận với khả năng chấp nhận, tiếp nhận của của cộng đồng thì việc thay đổi bảng chữ cái vẫn kém khả thi hoặc không khả thi. Mọi thay đổi liên quan tới dân sinh như giáo dục, văn hóa… đều không phải là thứ có thể ra quyết định thực hiện kiểu thử - sai vì hệ lụy là khó lường và không thể vãn hồi.

 

Việc thêm nhóm ký tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt có ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại và phát triển tiếng Việt, dân tộc Việt Nam, mang tính lịch sử trọng đại không chỉ đối với một thế hệ. Ngôn ngữ là tài sản chung của mọi thành viên dân tộc Việt Nam nên sự thay đổi nó phải do đại diện cao nhất của chúng ta là Quốc Hội chủ trì và quyết định cuối cùng.

 

Vấn đề quốc gia đại sự này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng về các khía cạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trước khi đề ra và quyết định nội dung cũng như lộ trình thực thi.

 

8 nhận xét:

  1. Bài này mà đăng báo ngành thì hay bao nhiêu. Hix

    Trả lờiXóa
  2. bài của Chuồn đấy à, bút pháp sắc sảo nhỉ, gửi đăng ở cái báo nào mà nó đăng cái đề xuất này đi...

    Trả lờiXóa
  3. Chắc cái dự thảo nó ra đời trên bàn nhậu kikikeke

    Trả lờiXóa
  4. Mỗi cái dự án, dự thảo nhà nước chi bao nhiêu tiền.

    Trả lờiXóa
  5. Nước mềnh giàu quá mà lắm vàng nhiều đô chưa biết tiêu vào đâu cho hết đây mà :((

    Trả lờiXóa
  6. Tính xem nếu bổ sung thì sự thay đổi sẽ tiêu tốn bao nhiêu tiền đi Chuồn ơi.

    Trả lờiXóa
  7. Nền giáo dục nước mình còn nhiều những người giầu ý kiến "sáng tạo" như Quách tiên sinh đây thì còn mệt mỏi nhiều!

    Trả lờiXóa